Ngư trường cá ngừ đại dương Việt Nam rộng lớn,
nhưng hiệu quả kinh tế chưa như mong muốn
Ảnh:TL
Công nghệ khai thác yếu
Theo Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNN), năm 2011, giá trị kim ngạch xuất khẩu cá ngừ cả nước đạt 379 triệu USD, tăng 29% so với 2010 và chiếm 6,3% trong cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Năm nay, con số nói trên được dự báo sẽ tiếp tục tăng cao hơn nữa.
Nghề đánh bắt cá ngừ chủ yếu tập trung ở 3 tỉnh Phú Yên, Bình Định và Khánh Hòa. Đây được coi là những "bãi đẻ” của cá ngừ, thế nhưng, việc đánh bắt vẫn chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, mang tính tự phát nên con cá ngừ khi "bơi” ra thế giới bị thua thiệt rất nhiều. Trao đổi với Đại Đoàn Kết, Chủ tịch Hiệp hội Nghề cá Việt Nam Võ Thiên Lăng cho hay, điểm yếu của con cá ngừ đại dương hiện nay là chưa thể tham gia vào một tổ chức quốc tế nào nên khó cạnh tranh được với các DN nước ngoài. Đặc biệt, phần lớn cá ngừ đại dương Việt Nam xuất khẩu vẫn phải mang nhãn hiệu nước ngoài. Con cá ngừ Việt Nam khi ra thế giới vẫn phải bằng cách DN trong nước mua gom rồi xuất khẩu theo kiểu ủy thác hoặc bán trực tiếp cho DN nước ngoài, do đó, dễ bị thiệt thòi về giá. Đơn cử như xuất sang Nhật Bản, các DN trong nước phải ủy thác cho nước này định giá, bởi vậy, giá cao hay thấp không phải DN mình quyết định, đây là một thiệt thòi lớn cho cá ngừ Việt Nam khi không thể tự chủ cả về giá cũng như thương hiệu.
Các chuyên gia trong ngành đánh giá, mục tiêu của cá ngừ đại dương là sẽ trở thành thành viên chính thức của Ủy ban Nghề cá di cư xa Trung và Tây Thái Bình dương (WCPFC) để có thể mở rộng ngư trường và phát triển thương hiệu. Tuy nhiên vẫn còn quá nhiều vấn đề cần phải làm nên việc trở thành thành viên của WCPFC vẫn còn rất xa.
Đánh bắt cá ngừ đại dương ở Tuy Hòa - Phú Yên đem lại nguồn lợi lớn
Chỉ nói riêng về vấn đề khai thác, ông Võ Thiên Lăng cho biết, toàn quốc hiện có hơn 1.800 tàu câu cá ngừ đại dương, được chia thành hai nhóm. Nhóm đánh bắt hiện đại của các DN, với các tàu cá có công suất từ 200 đến 750 CV. Nhóm còn lại của ngư dân, tập trung ở 3 tỉnh Phú Yên, Bình Định và Khánh Hòa, chủ yếu là tàu vỏ gỗ, công suất từ 90 đến 350 CV. Điểm khác biệt của hai nhóm này là ở chỗ, các tàu hiện đại có nhiều ưu thế trong việc xác định vị trí đàn cá; cá đánh bắt lên có thể bảo quản tốt nên chất lượng bảo đảm. Trong khi đó, tàu ngư dân nhỏ, trang thiết bị như máy thu câu, định vị, máy dò, thông tin liên lạc, dụng cụ sơ chế... còn thô sơ, lạc hậu. Vì vậy, mặc dù trữ lượng cá ngừ ở vùng biển nước ta từ 45 đến 50 nghìn tấn, nhưng, sản lượng khai thác của 3 tỉnh được coi là chủ lực gồm Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa mỗi năm cũng chỉ từ 10 đến 15 nghìn tấn, thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng cũng như sản lượng khai thác cho phép.
Chính việc khai thác với công cụ còn thô sơ, tàu nhỏ, hầm chứa cá chật hẹp, lại sử dụng đá lạnh non nên khó có thể giữ được độ lạnh giúp cá tươi lâu. Chính vì vậy, bình quân, chỉ có từ 30 đến 40% sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Liên kết cũng yếu
Việc hoạt động mang tính đơn lẻ, không liên kết của các DN cũng đang khiến con cá ngừ của Việt Nam khó có thể khẳng định được thương hiệu. Đơn cử như Phú Yên – một trong 3 "bãi đẻ” có nguồn lợi cá ngừ giàu tiềm năng của Việt Nam, đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KHCN) cấp nhãn hiệu "Cá ngừ Phú Yên” cho 73 thành viên là cá nhân, DN khai thác, chế biến và xuất khẩu cá ngừ ở tỉnh này hồi năm 2010. Thế nhưng, theo lãnh đạo một DN chế biến và xuất khẩu thủy sản, từ đó đến nay số đơn vị, DN tham gia dán nhãn hiệu "Cá ngừ Phú Yên” khi xuất khẩu loại thủy sản này là rất ít. Con cá ngừ Phú Yên, vì thế, khi "bơi” ra thị trường thế giới vẫn phải chịu rất nhiều thiệt thòi, bị ép giá và chịu những rào cản kỹ thuật khác…Theo các chuyên gia trong ngành, hầu hết các DN ở Phú Yên, kể cả các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa hoạt động theo kiểu đơn lẻ và chưa mặn mà tham gia xây dựng và phát triển thương hiệu.
Bởi vậy cho nên, trong khi chờ đợi thời gian có thể gia nhập WCPFC, thì con cá ngừ đại dương của Việt Nam vẫn chưa thể "bơi” ra biển lớn.
Minh Phương
Dịch vụ tốt:
Nguồn: daidoanket.vn
0 comments:
Post a Comment